Sư đoàn Bộ binh 1 - Quân giải phóng miền Nam Việt Nam anh hùng thuộc Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam (nay là Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam), thành lập cuối năm 1965 để vào chiến đấu trên chiến trường miền Nam khi chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ thất bại, phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào miền Nam trực tiếp tham chiến.
Tại Tây Nguyên, với tên gọi Đoàn Lê Lợi, rồi Nông trường 1, các trung đoàn trước khi về trực thuộc Sư đoàn Bộ binh 1 đã chiến đấu lập nên những chiến công xuất sắc trong Chiến dịch Plei Me, loại khỏi vòng chiến đấu Lữ đoàn 3 Sư đoàn Kỵ binh bay Mỹ.
Từ chiến thắng này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kết luận: “Chúng ta đánh được Mỹ, nhân dân ta hoàn toàn có thể chiến thắng đế quốc Mỹ”. Cũng từ chiến dịch này, phương châm tác chiến “Nắm thắt lưng địch mà đánh” được phổ biến cho toàn miền Nam.
Trong 4 năm hoạt động tại chiến trường Tây Nguyên, là lực lượng nòng cốt chủ công của Mặt trận Tây Nguyên (B3), Sư đoàn Bộ binh 1 đã tham gia hầu hết các chiến dịch lớn: Sa Thầy, Sa Thầy 2, Đắk Tô I, Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đặc biệt trong Chiến dịch Đắk Tô I với trận đánh then chốt ở Điểm cao 875
(10 - 11.1967) tại tỉnh Kon Tum, Sư đoàn Bộ binh 1 loại khỏi vòng chiến đấu Lữ đoàn 173 Dù sừng sỏ của Mỹ.
Tháng 8 năm 1968, Sư đoàn được điều vào chiến trường Đông Nam Bộ với tên gọi “Công trường 1”. Vượt qua khó khăn, gian khổ, được sự đùm bọc của chính quyền cách mạng và nhân dân các tỉnh: Tây Ninh, Bình Long, Phước Long; sự phối hợp của các đơn vị bạn, Sư đoàn Bộ binh 1 đã chiến đấu 803 trận, đạt hiệu suất cao. Tiêu biểu là các trận: Sóc Con Trăng, Đồng Pan, Võ Tùng, Suối Dây, đánh giao thông ở Đông Bắc Tây Ninh, Đường 13 Hớn Quản, Chơn Thành, Bình Long, được Bộ Chỉ huy Miền khen ngợi.
Tháng 10 năm 1969, Sư đoàn Bộ binh 1 được điều xuống chiến trường Tây Nam Bộ sát cánh cùng quân và dân Khu 8,
Khu 9 đánh địch, phá kìm, mở vùng, mở mảng, mở rộng vùng giải phóng với những trận đánh tiêu biểu: Vĩnh Trung (nhân dân gọi tên Sài Gòn Mới), Ba Soài, Núi Đất, Côtô. Khi Mỹ hỗ trợ lực lượng ở Campuchia đảo chính Xihanúc (Sihanouk), Sư đoàn Bộ binh 1 được lệnh tiến lên giúp bạn Campuchia đánh quân Lon Non, giải phóng một vùng rộng lớn Đông Nam Campuchia với những chiến công: Côngpông Trách, Đường 14 đi Xihanúcvin (Sihanoukvin); Đường 3, Đường 4 và Pôchentông đi Phnôm Pênh, giúp bạn xây dựng lực lượng và chính quyền của nhân dân Campuchia. Năm 1972, Sư đoàn Bộ binh 1 trở về miền Nam, đứng chân ở vùng Bảy Núi, An Giang và Hà Tiên, Kiên Giang. Cuối
năm 1973, do yêu cầu tổ chức lại lực lượng ở Tây Nam Bộ cho phù hợp với tình hình mới, Sư đoàn Bộ binh 1 bàn giao các trung đoàn cho Quân khu 9, cán bộ của Sư đoàn và cơ quan lần lượt về Bộ Tư lệnh Miền nhận nhiệm vụ.
Được sự quan tâm của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo; Viện Lịch sử quân sự phối hợp với Ban Liên lạc Hội Bạn chiến đấu cựu chiến binh Sư đoàn Bộ binh 1 tìm tòi tư liệu, nhân chứng, biên soạn cuốn “Lịch sử Sư đoàn Bộ binh 1 (1965 - 1974)”. Cuốn sách đã thể hiện khá đầy đủ những kinh nghiệm xây dựng, chiến đấu, những chiến công hiển hách và sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Bộ binh 1 trong
9 năm hoạt động ở các chiến trường, là tài sản vô giá, góp phần bồi đắp truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Dấu ấn nổi bật của Sư đoàn Bộ binh 1 có thể khái quát “năm cái nhất” sau đây:
Một là, Sư đoàn Bộ binh 1 là sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chiến đấu với quân viễn chinh Mỹ khi chúng mới vào chiến trường miền Nam, trực tiếp là chiến trường Tây Nguyên.
Hai là, Sư đoàn Bộ binh 1 là sư đoàn tiêu diệt nhiều đơn vị của quân Mỹ nhất, từ đại đội, tiểu đoàn đến lữ đoàn; bắt sống nhiều tù binh Mỹ nhất.
Ba là, Sư đoàn Bộ binh 1 là sư đoàn duy nhất được Đảng, Nhà nước “tặng thưởng kép” 2 Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhất cùng một lúc, cho một chiến công trong Chiến dịch Plei Me.
Bốn là, Sư đoàn Bộ binh 1 là sư đoàn duy nhất hoạt động ở tất cả các chiến trường: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ của miền Nam và Đông Nam Campuchia, cũng là sư đoàn chủ lực duy nhất hoạt động ở Tây Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).
Năm là, Sư đoàn Bộ binh 1 là sư đoàn duy nhất được biên chế nhiều trung đoàn và đơn vị tương đương trong đội hình chiến đấu của Sư đoàn (gồm 14 đơn vị: 10 trung đoàn, 4 đơn vị tương đương).
Với trách nhiệm và tình cảm của một cựu chiến binh, là Chính ủy đầu tiên của Sư đoàn Bộ binh 1 tại Tây Nguyên, tôi trân trọng giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài Quân đội, những người nước ngoài yêu thích tìm hiểu về đất nước, con người Việt Nam qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) trong cuốn “Lịch sử Sư đoàn Bộ binh 1 (1965 - 1974)” do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành.
Thiếu tướng HUỲNH ĐẮC HƯƠNG
Chính ủy đầu tiên của Sư đoàn Bộ binh 1
Nguyên Cục trưởng Cục Tổ chức,
Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
Nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thông tin xuất bản
- Tác giả
- Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự
- Thể loại
- Sách lịch sử và hồi kí quân sự
- Năm xuất bản
- 2024
- Số trang
- 420
- Khổ sách
- 14,5 x 20,5