Tới nội dung chính
Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam tập 1 (1944-1954)

5.0 trên 5 sao

Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam tập 1 (1944-1954)

Kế thừa, phát huy truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang của dân tộc, vận dụng sáng tạo học thuyết quân sự Mác - Lênin về vũ trang quần chúng và xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương “vũ trang cho công nông”, “tổ chức ra quân đội công nông”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong cao trào cách mạng năm 1930 - 1931, đỉnh cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh đã xuất hiện các đội Tự vệ công nông, Tự vệ đỏ (Xích vệ) làm lực lượng xung kích, chống địch khủng bố, bảo vệ quần chúng và phong trào cách mạng. Những đội tự vệ ấy là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Từ năm 1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, các trung đội Cứu quốc quân, Quân du kích Ba Tơ... lần lượt ra đời, đóng vai trò nòng cốt trong các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh của nhân dân ở các địa phương và xây dựng, phát triển căn cứ địa cách mạng.

Tác giả
Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự
Khổ sách
16 x 24
Năm xuất bản
2024
Số trang
576

Liên hệ

Liên hệ ngay về sách Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam tập 1 (1944-1954)

Chi tiết sách

Kế thừa, phát huy truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang của dân tộc, vận dụng sáng tạo học thuyết quân sự Mác - Lênin về vũ trang quần chúng và xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương “vũ trang cho công nông”, “tổ chức ra quân đội công nông”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong cao trào cách mạng năm 1930 - 1931, đỉnh cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh đã xuất hiện các đội Tự vệ công nông, Tự vệ đỏ (Xích vệ) làm lực lượng xung kích, chống địch khủng bố, bảo vệ quần chúng và phong trào cách mạng. Những đội tự vệ ấy là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Từ năm 1940, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, các trung đội Cứu quốc quân, Quân du kích Ba Tơ... lần lượt ra đời, đóng vai trò nòng cốt trong các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh của nhân dân ở các địa phương và xây dựng, phát triển căn cứ địa cách mạng.

Tháng 12 năm 1944, xuất phát từ yêu cầu phải xây dựng đội quân chủ lực và trên cơ sở phong trào chính trị quần chúng phát triển mạnh, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức, phương châm xây dựng, chiến thuật của lực lượng vũ trang cách mạng. Thực hiện chỉ thị của Người, ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình (nay là xã Hoàng Hoa Thám, huyện Nguyên Bình), tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu bước phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Ngay sau khi ra đời, với quân số ít, vũ khí thô sơ, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu truyền thống đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đúng như Lãnh tụ Hồ Chí Minh khẳng định: “Tuy lúc đầu quy mô còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Chưa đầy một năm sau, dù lực lượng còn nhỏ bé, vũ khí trang bị thô sơ, thiếu thốn, Quân đội ta đã làm lực lượng nòng cốt, cùng toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trải qua quá trình vừa xây dựng, vừa chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam từng bước trưởng thành, phát triển toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, vũ khí, trang bị, nghệ thuật tác chiến... Nêu cao ý chí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, Quân đội đã cùng toàn dân lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của đối phương, từng bước làm thay đổi cục diện chiến tranh, đẩy thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động đối phó. Đến năm 1953, ta đã xây dựng được 6 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo cùng một số trung đoàn, tiểu đoàn trực thuộc Bộ; bộ đội chủ lực ở các liên khu, phân khu và bộ đội địa phương có bước phát triển toàn diện, rộng khắp. Sự trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng của Quân đội ta là một trong những nhân tố quyết định làm nên những chiến công oanh liệt trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam có bước phát triển vượt bậc về mọi mặt, cả về tổ chức lực lượng, trình độ chỉ huy tác chiến, nghệ thuật quân sự; từ đơn thuần bộ binh, từng bước hình thành các quân chủng, binh chủng tương đối chính quy, hiện đại làm nòng cốt bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tiến hành kháng chiến ở miền Nam. Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, các đơn vị chủ lực bộ binh có bước phát triển mạnh về tổ chức với quy mô từ cấp sư đoàn phát triển thành quân đoàn binh chủng hợp thành. Phát huy bản chất cách mạng, truyền thống anh hùng, nêu cao ý chí “dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng”, Quân đội ta đã cùng toàn dân lần lượt đánh thắng các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ xâm lược; tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dân tộc, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”, trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975), Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia, góp phần vun đắp tình hữu nghị, đoàn kết, liên minh chiến đấu bền chặt giữa ba nước Đông Dương cùng chống kẻ thù chung.

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt, cùng toàn dân tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc; đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Campuchia và nhân dân Lào. Từ năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Quân đội được xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực, Quân đội đã làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước những quyết sách đúng đắn; xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh; chủ động phòng chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, không ngừng mở rộng, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, tạo thế và lực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Quân đội là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững chắc; đi đầu trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia tích cực, hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị trên các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược; là lực lượng xung kích, nòng cốt trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn...

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. “Trung với Đảng, hiếu với dân” là bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam được biểu hiện cả trong chiến đấu, công tác và lao động sản xuất. Tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý được nhân dân trao tặng cho Quân đội, gắn với hình ảnh Lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu. Đó là hình tượng tập trung những phẩm chất cao đẹp nhất của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - quân đội kiểu mới từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; là niềm vinh dự, tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và toàn thể nhân dân.

Thực hiện Đề án tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22.12.1944 - 22.12.2024) và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22.12.1989 - 22.12.2024) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án của Bộ Quốc phòng và chỉ thị của đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Viện Lịch sử quân sự triển khai nghiên cứu, biên soạn, bổ sung, hoàn chỉnh bộ công trình

“Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 2024)”. Bộ công trình gồm 5 tập, trong đó tiến hành bổ sung, chỉnh sửa, tái bản “Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam” các tập 1, 2, 3 và nghiên cứu, biên soạn “Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam” tập 4, tập 5.

Đây là bộ công trình lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam được nghiên cứu công phu, phản ánh tương đối toàn diện quá trình hình thành, phát triển, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt hành trình 80 năm qua; khẳng định, tôn vinh công lao, sự đóng góp, hy sinh to lớn của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam; khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta; đúc rút những bài học quý để tiếp tục vận dụng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Nhân dịp bộ sách “Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam” 5 tập ra mắt bạn đọc, Viện Lịch sử quân sự trân trọng cảm ơn Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng đã quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ; cảm ơn các nhà khoa học, tập thể tác giả đã dày công nghiên cứu, biên soạn để hoàn thành bộ công trình lịch sử quan trọng này. Quá trình triển khai thực hiện, Viện Lịch sử quân sự đã có nhiều cố gắng, song khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của các đồng chí và bạn đọc.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ

Thông tin xuất bản

Tác giả
Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự
Thể loại
Năm xuất bản
2024
Số trang
576
Khổ sách
16 x 24

Mục lục

Lời nói đầu trang 7
Lời giới thiệu tập 1
(Sửa chữa, bổ sung, tái bản năm 2024) trang 13
LỜI ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP(Viết cho lần tái bản năm 2005) trang 17
Chương I: Những quan điểm quân sự đầu tiên của đảng, đội tự vệ công nông, mầm mống của lực lượng vũ trang cách mạng (1930 - 1939) trang 19
  • I. Những quan điểm quân sự đầu tiên của Đảng, cao trào Xôviết Nghệ - Tĩnh trang 19
  • II. Đội Tự vệ công nông, Nghị quyết về Đội Tự vệ của Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3.1935) trang 29
Chương II: XÂY DỰNG CÁC ĐỘI DU KÍCH VÀ THÀNH LẬP ĐỘI QUÂN CHỦ LỰC ĐẦU TIÊN, CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA VŨ TRANG (1939 - 1945) trang 43
  • I. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, các cuộc khởi nghĩa và sự ra đời, hoạt động của các đội du kích trang 43
  • II. Xây dựng căn cứ du kích, phát triển lực lượng vũ trang, thành lập Cứu quốc quân và Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam trang 67
Chương III: LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG CAO TRÀO CHỐNG NHẬT, CỨU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1945) trang 111
  • I. Quân giải phóng và khu giải phóng trong cao trào chống Nhật, cứu nước trang 111
  • II. Chớp thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa, lực lượng vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám trang 138
Chương IV: LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG NĂM ĐẦU GIÀNH ĐỘC LẬP (1945 - 1946) trang 154
  • I. Lực lượng vũ trang khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập trang 154
  • II. Lực lượng vũ trang cùng toàn dân khẩn trương chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến trang 189
Chương V: VỆ QUỐC QUÂN CÙNG TOÀN DÂN TIẾN HÀNH KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC, ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “ĐÁNH NHANH, THẮNG NHANH” CỦA THỰC DÂN PHÁP (1946 - 1947) trang 217
  • I. Những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến của Đảng trang 217
  • II. Cuộc chiến đấu tại Thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn trang 225
  • III. Phá cuộc tiến công lớn của thực dân Pháp đầu năm 1947 trang 242
  • IV. Tổ chức hậu phương kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang trang 255
  • V. Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, chiến lược “Đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp bị thất bại trang 267
Chương VI: ĐÁNH PHÁ BÌNH ĐỊNH, PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH DU KÍCH, ĐẨY MẠNH VẬN ĐỘNG CHIẾN, HÌNH THÀNH LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BA THỨ QUÂN (1948 - 1950) trang 279
  • I. Đẩy mạnh kháng chiến, phá chiến lược mới của địch trang 279
  • II. Phát triển chiến tranh du kích, đánh phá bình định, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương rộng khắp trang 287
  • III. Ra sức xây dựng bộ đội chủ lực, đẩy mạnh vận động chiến trang 309
  • IV. Chiến thắng Biên Giới trang 333
Chương VII: NÂNG CAO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI, ĐỀ CAO VẬN ĐỘNG CHIẾN, ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH DU KÍCH, ĐÁNH BẠI ÂM MƯU BÌNH ĐỊNH GẤP RÚT VÀ PHẢN CÔNG QUYẾT LIỆT CỦA ĐỊCH (1951 - 1952) trang 359
  • I. Nghị quyết Đại hội lần thứ hai của Đảng về đẩy mạnh kháng chiến và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trang 359
  • II. Đề cao vận động chiến, phát triển mạnh chiến tranh du kích, đánh bại âm mưu bình định gấp rút và phản công quyết liệt của địch trang 365
  • III. Xây dựng bộ đội chủ lực cơ bản và toàn diện trang 407
  • IV. Chiến thắng Tây Bắc và Thượng Lào trang 422
Chương VIII: QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN CÙNG TOÀN DÂN TIẾN HÀNH CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG - XUÂN 1953 - 1954, ĐỈNH CAO LÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ, ĐI ĐẾN KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1953 - 1954) trang 437
  • I. Chuẩn bị cho Đông - Xuân 1953 - 1954 thắng lớn trang 437
  • II. Chủ trương chiến lược và kế hoạch tác chiến của ta trong Đông - Xuân 1953 - 1954 trang 450
  • III. Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 trang 459
  • IV. Chiến dịch Điện Biên Phủ trang 474
  • V. Kháng chiến kết thúc thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng trang 506
Kết luận trang 517
Phụ lục trang 525
Danh mục tài liệu tham khảo trang 567

Câu hỏi thường gặp

Đặt mua sách bằng cách nào?

Website giới thiệu sách, không bán lẻ trực tuyến. Bạn đọc gọi số 024.38455766 hoặc gửi thư điện tử tới [email protected] để được hướng dẫn đặt mua. Chi tiết xem trang Hướng dẫn mua sách.

Có thể mua sách trực tiếp ở đâu?

Tại Trung tâm phát hành sách Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 23 Lý Nam Đế, Phường Hoàn Kiếm, Hà Nội, hoặc tại các cửa hàng sách trên toàn quốc.

Ngoài Hà Nội, Nhà xuất bản có văn phòng ở đâu?

Nhà xuất bản có ba văn phòng đại diện:
Hồ Chí Minh: 161-163 Trần Quốc Thảo, phường Nhiêu Lộc
Cần Thơ: Phi trường 31, đường Cách mạng Tháng Tám, Phường Bình Thủy
Đà Nẵng: Số 172 đường 2/9, Phường Hòa Cường

Sách được giao và thanh toán như thế nào?

Trong nội thành Hà Nội, nhân viên Nhà xuất bản đến giao sách kèm hoá đơn GTGT và làm thủ tục thanh toán. Ngoài nội thành Hà Nội, sách được giao qua bưu điện gần nhất sau khi Nhà xuất bản nhận được tiền mua sách; bạn đọc thanh toán bằng tiền mặt, séc hoặc chuyển khoản.

Vì sao nhiều cuốn sách ghi giá “Liên hệ”?

Giá bìa của những cuốn này chưa được cập nhật trên website. Bạn đọc gọi số 024.38455766 để được báo giá và biết sách còn phát hành hay không.

Nhà xuất bản có sách điện tử không?

Có. Sách điện tử của Nhà xuất bản đọc được trên Internet tại xbqdnd.vn và trên mạng truyền số liệu quân sự tại xbqdnd.bqp.

Có thể bạn sẽ thích