Thay lời giới thiệu
CUỐN NHẬT KÝ
VƯỢT QUA PHÁO BOM THÀNH CỔ
Mỗi khi nhắc về Quảng Trị, nhắc đến Khe Sanh và Thành Cổ, những cựu chiến binh từng tham gia chiến dịch năm ấy không khỏi nhớ về những kỷ niệm một thời hào hùng, một thời máu lửa, một thời khốc liệt. Nhiều người còn bàng hoàng, ngơ ngác khi chợt hỏi, giữa làn bom đạn dày đặc như thế làm sao mình vẫn sống, vẫn vượt qua và đi đến ngày chiến thắng. Chiến công của họ đã được nhiều người biết đến. Nhân dân đang suy tôn các anh các chị, đất nước đã ghi công các anh các chị. Nhưng sự thật mà các anh các chị trải qua, sự thật về những chiến công và sức chịu đựng phi thường giữa mưa bom, bão đạn mà họ gánh chịu thì không phải ai cũng được tận tường.
Cuốn nhật ký mà bạn đọc đang cầm trên tay là nhật ký của một người lính đặc biệt, thương binh hạng 1/4 Nguyễn Văn Hợi - nguyên Trợ lý quân lực của Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo huyền thoại. Ông là người đã trải qua những trận đánh quyết tử với quân thù trên chiến trường Khe Sanh, rồi theo đoàn quân tiến về giải phóng thị xã và Thành cổ Quảng Trị tháng 4 năm 1972. Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo của ông có vinh dự đặc biệt là đơn vị trực tiếp chốt giữ trong Thành cổ Quảng Trị qua 81 ngày đêm lịch sử, bi tráng, hào hùng, ác liệt, đầy hy sinh và mãi mãi bất tử của "mùa hè đỏ lửa" năm 1972.
Nguyễn Văn Hợi cũng là một trong hơn mười chiến sĩ cuối cùng của Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo đã chấp hành lệnh rút lui khỏi Thành cổ vào đêm ngày 15-9-1972. Cuốn nhật ký này đã cùng chủ nhân của nó có sức sống kỳ diệu, cùng nhau vượt qua những trận bom đào, pháo trộn trong 81 ngày đêm chốt giữ trong Thành cổ. Thói quen ghi nhật ký trên những nẻo đường chiến đấu cũng như nhiệm vụ của một người phụ trách quân lực của ông đã giúp chúng ta hôm nay được đọc những dòng nhật ký chân thực về thực tế sống và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn trăm bề của người chiến sĩ nơi chiến trường.
Nhật ký ngày 1 tháng 7 năm 1968 của Nguyễn Văn Hợi ghi: "... Lệnh của tiểu đoàn cho đại đội rút ra nhưng chỉ có bộ đội là rút ra kịp còn ban chỉ huy đại đội bị kẹt lại ở chân 689 (Ban chỉ huy đại đội có tôi, đại đội trưởng, hai đồng chí thông tin 2 oát và đồng chí Điệt, trinh sát). Ngụy trang lại công sự lần cuối, tôi và đại đội trưởng ngồi thụt xuống công sự. Hố đào vội nên quá chật, duỗi chân ra không được, pháo của địch lại bắn liên tục quanh công sự. Cối cá nhân và đại liên của địch trên 689 bắn xuống như vãi đạn. Ngẩng đầu lên tôi thấy bọn Mỹ ra ngoài rất đông. Chúng chỉ trỏ xuống phía trận địa của tôi. Cơm lại không có, đói quá. Xin hai đồng chí thông tin được ít gạo rang. Tôi và đại đội trưởng ngồi thụp xuống ăn. Chỉ mong sao trời mưa cho trận địa khỏi bị lộ. Lúc gần 11 giờ trưa, chiếc L19 bay quần đảo có đến gần 30 phút trên đầu, rồi bất ngờ chúc đầu lao xuống phóng một quả pháo khói.
Bỗng tiểu liên cực nhanh của Mỹ nổ ran quanh công sự. Tình thế gay go rồi. Anh em chúng tôi đã lọt vào vòng vây của Mỹ rồi hay sao? Đại đội trưởng nói nhỏ với tôi: "Phải bình tĩnh, đợi nó đến thật gần hãy nổ súng để tao quay lại công sự phía sau". Nói dứt lời, đại đội trưởng bật khỏi công sự, định trườn lại công sự phía sau, nhưng không kịp nữa rồi...".
Tôi nghĩ rằng, cuốn nhật ký này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn rất hữu ích nếu được sử dụng như một tài liệu giáo dục truyền thống, tài liệu tham khảo phục vụ huấn luyện kỹ thuật, huấn luyện chiến thuật, giảng dạy bộ môn Công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu của các đơn vị, nhà trường quân đội.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Nhà báo Nguyễn Hồng Hải
LỜI TÁC GIẢ
14 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2009, tại Ký túc xá sinh viên Trường Đại học Aalborg Vương quốc Đan Mạch, sau giây phút hạnh phúc khi đón đứa cháu trai thiên thần, cháu đầu của cô con gái thứ hai của tôi ra đời (vợ chồng con gái tôi đang làm việc tại trường đại học này), tôi giở nhật ký đánh máy lại những dòng đầu tiên. Từ sâu thẳm lòng mình, tôi xin dâng tất cả cho những người đồng đội của tôi, những người đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trên chiến trường Quảng Trị, đặc biệt ở 689 Khe Sanh năm 1968 và Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
TÁC GIẢ
Thông tin xuất bản
- Tác giả
- Nguyễn Văn Hội
- Thể loại
- Sách tham khảo
- Năm xuất bản
- 2011
- Số trang
- 216
- Khổ sách
- 14,5 x 20,5