Về phân vùng địa lý, đồng bằng Bắc Bộ có hình “tam giác cân rộng rãi và đường bệ” mà đỉnh của nó nằm ở Việt Trì (Phú Thọ), đáy của nó kéo dài từ Quảng Yên (Quảng Ninh) xuống đến tận Ninh Bình, với diện tích khoảng 15.000km2. Đồng bằng Bắc Bộ, chính xác hơn là châu thổ Bắc Bộ, bao gồm vùng trung du, đồng bằng trung tâm và duyên hải.
Về địa lý quân sự, theo quyết định ngày 31 tháng 12 năm 1945 của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thành lập Chiến khu 2, Chiến khu 3 và Chiến khu 11 gồm các tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng Bắc Bộ và một số tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc. Trong đó, Chiến khu 2 gồm các tỉnh: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình, Sơn La và Lai Châu; Chiến khu 3 gồm các tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh và thành phố Hải Phòng; Chiến khu 11 là thành phố Hà Nội.
Ngày 25 tháng 01 năm 1948, trước tình hình mới của cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 120-SL thành lập Liên khu 3 trên cơ sở hợp nhất Chiến khu 2, Chiến khu 3 và Chiến khu 11. Địa bàn Liên khu 3 gồm các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội,
Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hòa Bình, có diện tích khoảng 16.000km2. Tháng 5 năm 1952, Liên khu 3 được chia tách thành Liên khu 3 và Khu Tả Ngạn. Liên khu 3 (ở hữu ngạn sông Hồng) gồm các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Sơn La, Hòa Bình. Khu Tả Ngạn (ở tả ngạn sông Hồng) gồm các tỉnh Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Quảng Yên và thành phố Hải Phòng.
Thực tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cho thấy, do các hoạt động quân sự phụ thuộc rất lớn vào tình hình địa hình nên cả ta và Pháp đều phân tách vùng đồng bằng Bắc Bộ (đồng bằng trung tâm và duyên hải) với vùng trung du và miền núi phía Bắc. Trong cuốn sách này, vùng đồng bằng Bắc Bộ được hiểu theo cách phân vùng đó, nên chỉ bao gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hà Đông, Sơn Tây và thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Kiến An.
Phía Pháp coi đồng bằng Bắc Bộ là “cái then cửa của vùng Đông Nam Á”. Đối với quân và dân ta, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nói chung và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) nói riêng, đồng bằng Bắc Bộ vừa là chiến trường chủ yếu, nơi diễn ra cuộc chiến đấu giằng co, quyết liệt giữa ta và địch, vừa là “vùng dự trữ chủ yếu sức người,
sức của” của miền Bắc, có trách nhiệm của hậu phương đối với các chiến trường khác.
Chính vì thế, cuộc kháng chiến của quân dân đồng bằng Bắc Bộ trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, được đề cập trong hồi ký của rất nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cựu chiến binh... Tác giả cuốn sách này có 15 năm công tác tại Quân khu 3, trong đó có 7 năm công tác tại Phòng Khoa học quân sự Quân khu, đảm nhiệm mảng lịch sử quân sự của Quân khu nên ít nhiều có điều kiện và may mắn được tiếp xúc với tài liệu, nhân chứng lịch sử. Với phạm vi một cuốn sách nhỏ, tác giả không có tham vọng phản ánh toàn diện hay đi sâu vào một chuyên đề cụ thể, mà chỉ lựa chọn một số tiểu luận phản ánh một phần cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân đồng bằng Bắc Bộ giai
đoạn 1946 - 1954. Cuốn sách là sự tri ân của tác giả đối với vùng đất, con người nơi đây, thay lời cảm tạ tới cơ quan, đơn vị của Quân khu 3 nơi mà tác giả từng công tác, đặc biệt là Phòng Khoa học quân sự Quân khu.
Mặc dù rất cố gắng song cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự phê bình đóng góp của bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Thông tin xuất bản
- Tác giả
- Lê Tuấn Đạt
- Thể loại
- Sách văn học, nghệ thuật, văn hóa phẩm
- Năm xuất bản
- 2025
- Số trang
- 208
- Khổ sách
- 14,5 x 20,5