Trích đoạn
KHÚC PHONG CẦM TRÊN CÁT
Chúng tôi về Điền Lộc vào một ngày tháng năm nắng hực trảng cát hun hút trải dài suốt mùa hạ ở biển. Anh Trần Văn Liêm, một giáo viên kỳ cựu đất Phong Điền, rất mê những trầm tích trên vùng Ngũ Điền nhiều cát gió đã dẫn chúng tôi đi qua những ngõ xóm Điền Lộc ngoằn ngoèo. Anh Liêm gắn bó với rẻo đất bãi ngang, ở đâu có di tích anh đều biết, hướng dẫn tận tình như người dân trong làng.
Đi vào sâu Điền Lộc, cát chạy mãi dưới chân, tự dưng nhuốm cho tôi chút cảm mến với vùng đất lạ. Một lần được in chân vào mặt cát là một lần giao hòa với miền quê hương mật. Cồn cát nặng gót mẹ gánh gồng đi chợ sớm, nặng gót em những giờ đến trường nắng đổ mồ hôi. Còn những người giàbước chân nặng gót mỗi lần qua đồn ông Vệ có chòi canh cheo leo trên đồi cát. Thời chống giặc Mỹ, Điền Lộc được đánh dấu trên bản đồ quân sự như một tuyến phòng bị, có đồn lính, có chòi canh. Thỉnh thoảng xuất hiện những đơn vị thủy quân lục chiến của chế độ cũ tập trận, hành quân, máy bay trực thăng giặc Mỹ vòng đảo qua hàng cây xanh. Cát vô tình biến thành chiến lũy, buồn đau với phận người. Những hàng phi laobịchặt trụi để thoáng tầm nhìn, nhiều người lặng lẽ ngã trên cát trong những cuộc giao tranh. Khi hòa bình lập lại, tàu thuyền tấp nập trên bãi làng Tân Hội, Hòa Xuân. Những khoang thuyền đầy cá, nhưng rồinước mắtchứa chan những người vợ đợi chồng đi biển xa, những người vì mưu sinh bỏ quên mình giữa đại dương thăm thẳm.
Những người nghèo ở Tân Hội gắn bó với cát, với Bàu Rò nước đong đầy xanh thắm. Bàu nước ngọt ấy hình thành giữacồn cát, nhiều cá tôm mùa nước lên chen chúc nhau bò chơi trên cát.Mùa khô nước cạn, đất bùn màu mỡ trở thành ruộng hoa màu ngọt tươi hơn đất nào hết ở Ngũ Điền. Xưa, bàu nước này còn có trăm chim về quần tụ, đất lành nguyên vẻ hoang sơ. Nay, người dân còn lập những trang trại vịt quanh bàu, tiếng kêu của đàn đàn lớp lớp thủy cầm phá tan không khí hoang vắng nơi bàu cát.
Dọc con đường cát, những người đàn ông lực lưỡng vùi mình trong cát sâu, đào xới những lớp cát tìm phế liệukiếm sống qua ngày. Đôi người dùng những con bò kéo những xe cát đầy dùng vào mục đích xây dựng nhà cửa.Cát đi theo bước chân ai, dạo chơi qua những miền đất lạ, bao khung cảnh vàng tươi hoa nắng đón chờ cát. Cát theo chân tôi, vàng óng ánh giữa nẻo phù sa Ô Lâu từ ngàn năm đã êm ả chảy qua đất lành.
*
Trước mặt Điền Lộc, sông Ô Lâu trong xanh chảy qua êm đềm với chiều dài khoảng ba ki-lô-mét. Dòng sông mang phù sa màu mỡ từ vùng rừng núi phía tây Thừa Thiên - Huế đổ về phá Tam Giang. Đoạn qua Điền Lộc đã là hạ lưu, gần cửa sông Ô Lâu đổ vào phá, lòng sông đây nở rộng, hai bên xanh mướt màu cây. Nguồn nước Ô Lâu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Sông hiền lành là vậy nhưng những ngày lũ lụt cũng gầm thét vang trời, nước dâng lên quấy xóm quấy làng, chia cắt đường sá. Ngày tôi ra Điền Lộc, hoa sen giữa hạ nở hồng cánh đồng. Dăm con thuyền bé chèo nhẹ, lướt qua những chiếc rớ bà dựng choán góc sông. Gió thổi mát rượi, mang nguồn thơm của sen, của lúa trổ đòng xông nồng cánh mũi. Làng quê rất gần gũi, rất thơm, thấm trong máu thịt như thể là nhà, là cố quận. Dừng lại trên cầu Hòa Xuân, nhìn trời nước thấm vào đáy mắt, lòng người se lại. Nắng chầm chậm rưới sắc vàng nhuộm sông, ao sen, đồng lúa. Xa xa, trong màu mây xám nhạt, những độn núi sừng sững góc trời chạy dọc một rặng xanh. Ở phía tây, Trường Sơn một dải trấn ngang chân trời màu tím đậm. Bạch Mã xa kia mây cuộn trắng đầu. Huế như gần lại từ điểm nhìn của vùng bãi ngang. Ngày xưa, những bước chân di dân khai hoang mở đất đầu tiên hoặc là từ biển cập bờ, hoặc theo vùng sông nước, đầm phá từ phía đông mở dần về phía tây. Vùng Ngũ Điền hay Điền Lộc là nơi những bước chân đầu tiên dựng làng lập ấp của người Việt từ Bắc vào. Những xóm làng mọc lên trên cồn cát hoang vu, bên sóng biển, bên những dải đất phù sa chua mặn, rồi ruộng, rồi đồng, màu xanh choán dần khoảng vàng đen cằn cỗi của cát, của bùn.
Người dân từ nhiều nơi dưới nhiều hình thức, lý do khác nhau cũng đến sinh cơ lập nghiệp, cùng sự phát triển dân số tự nhiên đã hình thành nên những xóm làng mới ở Điền Lộc. Ngày nay, xã Điền Lộc có các thôn gồm: Nhất Đông, Nhì Đông, Nhất Tây, Nhì Tây và Giáp Nam. Năm thôn này thuộc làng Đại Lộc là một ngôi làng có lịch sử lâu đời trên vùng đất Ngũ Điền và các thôn ven biển là Mỹ Hòa, Tân Hội và Hòa Xuân. Những con đường ngang dọc đi qua Điền Lộc tạo điều kiện cho nhân dân nơi đây mở rộng giao lưu với bên ngoài.
Điền Lộc có diện tích đất tự nhiên thuộc vùng đồng bằng ven biển, xen kẽ có những độn cát thấp ẩn chứa nhiều vết trầm tích thời gian. Nhìn từ trên cao, Điền Lộc có ba mảng màu riêng biệt, màu xanh mướt của ruộng lúa, màu vàng của những cồn cát và màu xanh đục của những thôn giáp biển trồng nhiều phi lao. Đi miết về phía đông, màu xanh thẳm của biển Đông réo vỗ bên triền cát dài Điền Lộc. Với địa vật như thế, đất đai ở đây có đặc điểm là đất mặn phèn trên phù sa phủ cát, được phân tầng rõ rệt theo chiều sâu. Tầng trên dày khoảng 20 cen-ti-mét, màu xám nâu (lượng cát chiếm 86 phần trăm); tầng giữa dày khoảng 25 cen-ti-mét, xám trắng, lượng cát giảm, bột sét tăng lên. Xuống sâu hơn nữa thì độ phèn càng nặng. Nhìn chung, đất hơi chua, hàm lượng chất dinh dưỡng không cao, người dân sử dụng để trồng lúa, năng suất không cao bằng các vùng chuyên canh khác và nhiều loại cây lấy củ như khoai, sắn, các loại rau màu.
Thông tin xuất bản
- Tác giả
- Lê Vũ Trường Giang
- Thể loại
- Sách văn học, nghệ thuật, văn hóa phẩm
- Năm xuất bản
- 2018
- Số trang
- 176
- Khổ sách
- 13 x 19