LỜI NÓI ĐẦU
Tự do, bình đẳng là khát vọng, là giá trị đồng thời là quyền cơ bản, quan trọng nhất của quyền con người. Trong quá trình phát triển, con người luôn đặt ra và vươn tới tự do, bình đẳng như là nhu cầu phát triển tự nhiên, tiên quyết, tất yếu của mình. Bình đẳng vừa là một quyền cơ bản vừa là điều kiện xã hội để mỗi cá nhân có thể phát triển hài hòa trong cộng đồng. Có thể nói bình đẳng là một quyền kép. Nó vừa là một quyền thực định vừa là một quyền con người cơ bản vừa là cơ sở để con người đấu tranh bảo vệ những quyền và lợi ích của mình.
Với ý nghĩa đó, ngày nay khái niệm bình đẳng thường được gắn với khái niệm không phân biệt đối xử để nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân.
Trên bình diện quốc tế, năm 1948 Bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ra đời. Trong lời mở đầu Văn kiện quan trọng bậc nhất của Liên hợp quốc nói chung, của quyền con người nói riêng đã khẳng định và đề cao những quyền cơ bản của con người trong đó có các quyền tự do, bình đẳng. Văn kiện có đoạn viết: "Phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng... là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình thế giới"1. Có thể nói từ đây các quyền con người nói chung, quyền bình đẳng nói riêng của tất cả mọi người mới được thừa nhận về mặt chính trị, có ý nghĩa pháp lý quốc tế, có tính chung của toàn nhân loại.
Ở Việt Nam, kế thừa các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Điều 16) tiếp tục đề cao quyền con người nói chung, quyền bình đẳng nói riêng và nhấn mạnh: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật". Như vậy có thể nói bình đẳng là một quyền cơ bản, thiết yếu của con người được pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam ghi nhận.
Mọi công dân đều được hưởng tất cả các quyền, tự do, không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc, tài sản, giống nòi hay các địa vị khác. Tất cả họ đều được bình đẳng và được pháp luật bảo hộ như nhau, được bảo vệ chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Chính vì lẽ đó, những hành vi vi phạm quyền bình đẳng của công dân phải được phát hiện kịp thời và xử lý công minh theo quy định của pháp luật.
Trong đời sống, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, quyền bình đẳng của công dân trên các lĩnh vực chưa được bảo đảm như mong muốn. Điều này cũng diễn ra trong quá trình tố tụng hình sự - là lĩnh vực quan trọng, liên quan đến nhân phẩm, thậm chí là sinh mạng của con người. Để bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trong các phiên tòa xét xử hình sự, tránh tình trạng người bị buộc tội phải chịu nhiều sức ép, ở vào vị thế bất lợi, pháp luật quy định trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành phiên tòa xét xử. Đồng thời pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành và tham gia tố tụng sao cho họ có đủ quyền năng và bình đẳng với nhau, nghĩa là có các điều kiện và cơ hội như nhau để bảo vệ quyền, lợi ích, quan điểm của mình. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2 tháng 1 năm 2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" chỉ rõ rằng "Khi xét xử, các tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật". Đó cũng là điều kiện, là cơ sở để Toà án ra được bản án, quyết định đúng đắn.
Một điều dễ nhận thấy là bỏ lọt tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội hay làm oan người vô tội cũng xâm hại nghiêm trọng đến quyền bình đẳng của công dân. Không lẽ nào, cùng có những hành vi vi phạm pháp luật, người thì bị buộc tội, người lại nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Không lẽ nào, người thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng lại bị kết tội với mức hình phạt nghiêm khắc. Cả hai khuynh hướng này đều là biểu hiện của bất bình đẳng trong xét xử hình sự.
Trong tố tụng hình sự, các hiện tượng mớm cung, ép cung và nặng hơn nữa là dùng nhục hình chưa hoàn toàn ngăn ngừa được. Điều này đã gây bất bình trong dư luận xã hội mà các phương tiện thông tin đại chúng đã phản ánh. Tại phiên tòa xét xử hình sự vẫn còn những biểu hiện chưa thực sự bảo đảm quyền bình đẳng của những người thuộc các bên khác nhau tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không thể làm ngơ trước các hiện tượng nói trên mà phải có giải pháp khắc phục bằng được các biểu hiện bất bình đẳng đó. Điều này được thể hiện rõ nét trong quan điểm, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Bảo đảm quyền bình đẳng của công dân không phải là trách nhiệm, nghĩa vụ nhất thành bất biến mà luôn vận động phát triển theo quy luật vận động của tự nhiên và xã hội. Trong dòng chảy đó, quyền con người nói chung, quyền bình đẳng nói riêng ngày càng được củng cố, mở rộng đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật và không ngừng nâng cao việc thực thi pháp luật. Việc đẩy mạnh thực hiện chiến lược cải cách tư pháp cũng nhằm thực hiện mục tiêu đó.
"Tuy cải cách tư pháp đã triển khai được nhiều năm, nhưng dường như chưa tạo được những thay đổi cần thiết trong hoạt động tố tụng hình sự"1. Khi mà quyền con người nói chung, quyền bình đẳng của công dân nói riêng bị xâm hại thì Nhà nước phải có biện pháp hữu hiệu để khắc phục, xử lý kịp thời, công minh. Một trong các biện pháp đó là đưa các vụ việc đó ra giải quyết theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự mà tập trung nhất là giải quyết vụ án tại phiên tòa xét xử. Tuy nhiên, cũng chính tại phiên tòa xét xử cho thấy rằng vẫn còn trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng của công dân, làm giảm sút lòng tin của Đảng, Nhà nước và nhân
dân đối với các cơ quan tư pháp mà Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2 tháng 1 năm 2002 của Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" đã chỉ ra. Việc người dân chưa thực sự tin vào tính công minh, khách quan, công bằng, bình đẳng của pháp luật, một mặt do những biểu hiện xét xử còn oan sai, mớm cung, ép cung chưa khắc phục triệt để. Mặt khác, có tình trạng cán bộ vi phạm pháp luật mà không bị xử lý hoặc xử lý chưa thỏa đáng. Từ thực tiễn đó, nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài đặt ra là, khi xét xử, Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng.
Cuốn sách "Bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trong xét xử hình sự" của Tiến sĩ Hoàng Hùng Hải là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực xét xử hình sự. Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, biên soạn, song cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định. Nhà xuất bản mong nhận được ý kiến đóng góp phê bình của độc giả.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Thông tin xuất bản
- Tác giả
- Tiến sĩ Hoàng Hùng Hải
- Thể loại
- Sách tham khảo
- Năm xuất bản
- 2015
- Số trang
- 212
- Khổ sách
- 14,5 x 20,5