Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng bán sơn địa Tây Nam Tổ quốc, nơi dòng Mê Kông hiền hòa chảy vào đất Việt, soi bóng dãy Thất Sơn trập trùng mây trắng.
Trước đây, mùa nước nổi bắt đầu xuất hiện ở quê tôi vào khoảng tháng Bảy và kết thúc vào độ tháng Mười âm lịch. Những đồng lúa bạt ngàn vừa thu hoạch xong bỗng chốc bị nhấn chìm trong nước, mênh mông như biển khơi, mút tầm mắt là đường chân trời. Nước về đem theo cá tôm ban tặng cho người dân làm nghề hạ bạc quê tôi. Những chiếc xuồng câu lưới ngày đêm xuôi ngược trên cánh đồng đầy nước, để bao bữa cơm đầm ấm sum vầy. Nước cũng mang phù sa bồi đắp thêm những cánh đồng châu thổ, cho hai vụ lúa bội thu.
Thiên nhiên dường như quá ưu ái cho xứ sở này, từ ngọn lúa oằn bông cho đến những dòng sông đầy tôm cá. Có lẽ vì vậy mà người dân nơi đây sống hào sảng nghĩa tình, tứ hải giai huynh đệ. Mà cá tính miền Tây cũng ngộ, tài tử miệt vườn, tiếu lâm cà rỡn, nhưng gặp cái xấu là tiêu trừ, gặp cái ác là tiệt diệt. Bởi vậy xứ này vừa có câu “nhất phá sơn lâm nhì đâm Hà Bá”, rồi lại có câu “Ra đường gặp vịt cũng lùa/ Gặp gái cũng ghẹo, gặp chùa cũng tu”. Hồi đó, dân quê tôi vốn dĩ ít lo xa, cứ nghĩ lúc nào sông cũng đầy cá, lúa cũng đầy đồng, dễ gì đói.
Nhưng rồi bao biến cố liên tiếp xảy ra, khiến ai nấy bàng hoàng. Chiến tranh chống đế quốc Mỹ vừa kết thúc thì lập tức bọn Khmer Đỏ ác ôn tràn sang, giết hại đồng bào ta không thương tiếc, tiếng kêu khóc dậy cả đất trời. Những năm tháng chiến tranh khiến làng quê tiêu điều, xơ xác. Biết bao người đã ra đi nhưng mãi mãi chẳng quay về, gieo rắc bi thương cho những bà mẹ quê lưng còng theo năm tháng.
Trong suốt nửa thế kỷ qua, mảnh đất Tây Nam quê tôi đã chịu đựng quá nhiều nỗi thăng trầm. Chiến tranh kết thúc chưa bao lâu, lại tới chuyện các quốc gia thượng Mê Kông ngăn sông để làm thủy điện, khiến lượng nước đổ về dưới xuôi vừa ít vừa thất thường. Mùa nước nổi không còn về đều đặn các năm, con cá con tôm cũng thưa vắng, phù sa không được bồi đắp nhiều khiến các cánh đồng bạc màu, mùa màng thất bát.
Hơn một triệu người dân miền Tây phải chọn cảnh ly hương xa xứ, bỏ ruộng bỏ vườn đến đất khách quê người để mưu sinh. Nhiều xóm làng bây giờ vắng tanh, hầu như chỉ còn người già và mấy đứa trẻ con quanh quẩn. Ai trong độ tuổi lao động thì đã đến với những miền đất hứa như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương hay những thành phố khác để làm mướn hết.
Thế nhưng, cuộc mưu sinh xứ người có khi nào là dễ. Bao phen bà con bị mất việc, phải “trôi” ngược về quê, rồi không chịu nổi cảnh túng bấn, lại phải tha hương tìm cơ hội đổi đời. Những điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại, buồn như tiếng đàn bầu rơi trong đêm vắng.
Tôi đã nhiều lần rong ruổi khắp miền Tây, kể cả những hải đảo xa xôi. Càng đi, tôi càng thấy trân quý tấm lòng của người dân nơi đây, bởi họ luôn đối đãi với nhau như bát nước đầy. Càng đi, càng thấy buồn vì bà con quê mình còn nghèo quá.
Cuốn sách này tôi chủ yếu viết về miền Tây, một miền Tây đẹp như tranh, cũng là một miền Tây đầy những nỗi niềm và biết bao thân phận. Cũng từ miền Tây, các vùng văn hoá khác hiển lộ những màu sắc đa chiều trong cuốn sách. Hiểu về một vùng đất, ta sẽ thêm yêu vùng đất ấy, có ai đó từng nói với tôi như thế. Và tôi cũng tin rằng, tình yêu đôi khi là tiền đề cho những trăn trở nghĩ suy, để chúng ta cùng chung tay vượt qua những thăng trầm. Hoặc chí ít, tình yêu cũng giúp chúng ta thấu hiểu, sẻ chia với những gì mà miền Tây và các miền quê khác trải qua và đối mặt.
Đó là những điều thiết tha nhất mà tác giả cuốn sách này kỳ vọng.
TÁC GIẢ
Thông tin xuất bản
- Tác giả
- Trương Chí Hùng
- Thể loại
- Sách văn học, nghệ thuật, văn hóa phẩm
- Năm xuất bản
- 2024
- Số trang
- 200
- Khổ sách
- 13 x 19